12
05 2026

Nghe kém, giảm thính lực ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ gây ảnh hưởng tới quá trình học nói, giao tiếp bằng ngôn ngữ của trẻ. Nhiều trường hợp nghe kém nặng, điếc,… có thể bị câm, ảnh hưởng rất lớn tới tương lai.

  1. Nghe kém là gì?

Về giải phẫu, tai gồm có 3 phần chính là tai ngoài , tai giữa và tai trong. Về sinh lý nghe, âm thanh sẽ đi vào tai ngoài, qua tai giữa, tai trong, qua dây thần kinh ốc tai tới thân não, lên vỏ não và được giải mã. Từ đó, con người sẽ hiểu được đó là âm thanh gì, có ý nghĩa gì.

Nghe kém ở trẻ là tình trạng sức nghe của trẻ bị giảm so với bình thường. Trẻ không nghe được tiếng nói thầm hoặc các âm thanh rất nhỏ. Với trẻ em, ngưỡng nghe bình thường trên thính lực đơn âm là ≤15dB. Nếu ngưỡng nghe lớn hơn 15dB được gọi là nghe kém.

Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, có khoảng 5% dân số, tương đương 430 triệu người trên thế giới bị nghe kém. Trong đó, có 32 triệu trẻ em dưới 15 tuổi có sức nghe kém – hiện tượng giảm một phần hoặc toàn bộ khả năng cảm nhận âm thanh.

Nghe kém được phân chia thành nhiều mức độ khác nhau, từ nhẹ tới trung bình nhẹ, trung bình nặng, nặng và điếc. Nghe kém có thể do bẩm sinh, do tai biến sản khoa trong khi sinh hoặc do mắc phải các nguyên nhân khác sau khi sinh.

  1. Yếu tố nguy cơ nghe kém ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

Có nhiều nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây nghe kém ở trẻ em, cụ thể là:

2.1 Nguyên nhân bẩm sinh

  • Di truyền: Là nguyên nhân hàng đầu gây nghe kém ở trẻ sơ sinh. Có khoảng 50% các trường hợp nghe kémbẩm sinh là do di truyền. Một số nghiên cứu cho thấy, các gia đình có bố hoặc mẹ bị nghe kém thì con của họ cũng có nguy cơ nghe kém cao hơn so với những đứa trẻ có bố, mẹ khỏe mạnh khác;
  • Thời kỳ mang thai của người mẹ
    • Nếu người mẹ bị một số bệnh nhiễm trùng như Rubella, herpes hoặc giang maitrong thời kỳ mang thai thì trẻ có thể bị nghe kém hoặc điếc;
    • Bà mẹ mang thai sử dụng một số loại thuốc gây ngộ độc như thuốc điều trị sốt rétthuốc lợi tiểu, nhóm aminoglycosides, cytotoxic cũng có thể gây nghe kémcho thai nhi sau khi trẻ ra đời;
    • Nhiễm trùng ốitrước khi sinh;
    • Có một số dị tật khác ở tim, mắt, vành tai, ống tai, đường chân tóc thấp, không có nhân trung,…

2.2 Nguyên nhân tai biến sản khoa trong khi sinh

  • Sinh non, cân nặng sơ sinh thấp: Nếu trẻ sinh non, có cân nặng lúc sinh thấp (dưới 1500g) thì có nguy cơ gặp vấn đề về suy giảm thính lực cao hơn so với trẻ sinh đủ tháng. Bên cạnh đó, trẻ có cân nặng thấp thường đi kèm với các yếu tố nguy cơ khác như vàng datăng bilirubin tự do, suy hô hấp cần thở máy, nhiễm trùng huyết, xuất huyết trong não thất,… nên càng tăng nguy cơ nghe kém ở trẻ sơ sinh;

Trẻ bị vàng da sau sinh: Tình trạng tăng bilirubin tự do có thể gây tổn thương nhân thần kinh thính giác thân não, có thể phá hủy dây thần kinh thính giác và tế bào hạch ốc tai. Vàng da nặng ở trẻ sơ sinh có thể gây tổn thương thần kinh nghe, dẫn tới nghe kém ở trẻ;

Vàng da sau sinh cũng là một trong số những nguyên nhân gây tình trạng nghe kém ở trẻ

  • Thiếu oxy khi sinh: Tình trạng thiếu oxy ở trẻ cũng có liên quan chặt chẽ với nguy cơ suy giảm thính lực. Cụ thể, khi có đủ oxy và tưới máu bình thường thì chức năng của ốc tai sẽ được đảm bảo. Ở những trẻ sơ sinh bị thiếu oxy hoặc bị ngạt, các tế bào hạch ốc tai sẽ bị ảnh hưởng. Với trẻ bị thiếu oxy nặng, ốc tai có thể bị tổn thương nặng, gây ảnh hưởng tới thính lực của trẻ.

2.3 Nguyên nhân mắc phải sau khi sinh

  • Nhiễm khuẩn:
    • Viêm tai mạn tính: Các xương con nằm trong tai giữa có nhiệm vụ dẫn truyền, tăng năng lượng sóng âm từ tai ngoài vào tai trong. Với trẻ bị viêm tai giữa, dịch hoặc mủ bị ứ đọng trong hòm nhĩ sẽ làm cản trở sự rung động của chuỗi xương con, khiến năng lượng sóng âm bị hao hụt, dẫn tới sức nghe bị giảm. Tình trạng này được gọi là nghe kém dẫn truyền, thường ở mức độ nhẹ hoặc trung bình. Đây là nguyên nhân quan trọng gây nghe kém và điếc ở trẻ em;
    • Viêm màng não: Có khoảng 10% trẻ em sau khi mắc viêm màng não có di chứngnghe kém ở các mức độ khác nhau. Về cơ chế gây bệnh, khi trẻ bị viêm màng não, não và màng não sẽ bị phù, làm giảm oxy tới các tế bào thần kinh, gây tổn thương không hồi phục cho các tế bào thần kinh. Trẻ bị viêm màng não mủ có nguy cơ bị điếc cao, có thể bị điếc chỉ sau một vài ngày mắc bệnh;
  • Chấn thương: Các chấn thương vùng đầu và tai là một trong những yếu tố nguy cơ nghe kém ở trẻ sơ sinhvà trẻ nhỏ. Chấn thương có thể gây nghe kém tạm thời hoặc nghe kém vĩnh viễn. Về cơ chế gây bệnh, các chấn thương vùng đầu làm tổn thương não, màng não, thủng màng nhĩ, ảnh hưởng tới cấu trúc của tai trong, dẫn tới nghe kém;
  • Sử dụng thuốc: Các loại thuốc kháng sinh(đặc biệt là gentamicin và tobramycin) có thể gây ảnh hưởng tới bộ phận ốc tai và tiền đình. Chúng gây chết tế bào lông, làm gián đoạn sự dẫn truyền các tín hiện điện của các synap thần kinh hoặc phá hủy các tế bào thần kinh và tế bào ốc tai, gây nghe kém ở trẻ;
  • Tiếng ồn: Tiếng ồn có cường độ trên 115dB có thể gây nghe kém, điếc ở trẻ em dù chỉ tiếp xúc 1 lần trong 3 – 15 phút. Những âm thanh có cường độ trên 100dB cũng có thể gây hại tới thính lực của trẻ nếu tiếp xúc trong thời gian dài;
  • Yếu tố nguy cơ khác: Độ tuổi, mắc bệnh quai bị, sởi, nút ráy tai, có dị vật rơi vào tai, bị u xơ thần kinhđộng kinh,…
  1. Phương pháp sàng lọc nghe kém

Trẻ bị suy giảm thính lực nếu không được phát hiện và can thiệp sớm trước khi trẻ được 2 tuổi thì sẽ không thể phục hồi ngôn ngữ như trẻ bình thường. Điều này sẽ gây khó khăn cho trẻ trong giao tiếp, học tập, gây ảnh hưởng tới tâm lý của bé. Vì vậy, sàng lọc nghe kém sớm đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ.

Sàng lọc thính giác cho trẻ sơ sinh nên thực hiện trong vòng 1 tháng sau khi sinh, chẩn đoán xác định trong vòng 3 tháng sau sinh và thực hiện can thiệp nếu trẻ bị nghe kém trong vòng 6 tháng sau sinh. Trong trường hợp không đảm bảo các mốc thời gian nêu trên thì cần thực hiện sớm nhất khi có thể.

Có thể phát hiện nghe kém ở trẻ bằng cách:

  • Quan sát, thấy trẻ không phản ứng với các âm thanh, đặc biệt là các âm thanh lớn; không hóng chuyện, chậm nóihoặc không nói được;
  • Đo âm ốc tai kết hợp đo điện thính giác thân não.

Lưu ý: Cần thực hiện sàng lọc ít nhất 2 – 3 lần bằng các phương pháp khác nhau để xác định chẩn đoán. Đồng thời, cần chẩn đoán phân biệt nghe kém với các vấn đề khác như: trẻ mải chơi, không để ý tới âm thanh, nói ngọng do các nguyên nhân khác, rối loạn hành vi (tăng động, kém tập trung, tự kỷ hoặc chậm phát triển trí tuệ).

  1. Biện pháp phòng ngừa nghe kém ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

Có thể phòng ngừa nghe kém được trong một số trường hợp. Các biện pháp như sau:

  • Phụ nữ mang thai cần được chăm sóc kỹ về chế độ dinh dưỡng và nghỉ ngơi, tránh suy dinh dưỡng bào thai;
  • Bà bầu cần tiêm phòng theo các chương trình tiêm chủng đặc biệtvới các bệnh có thể gây nghe kém bẩm sinh ở trẻ;
  • Theo dõi và đăng ký sinh ở các cơ sở y tế có chuyên môn cao, đề phòng các tai biến sản khoa;
  • Phòng tránh nhiễm trùng sau sinh như viêm phổi, viêm màng não, viêm não,…;
  • Phát hiện, điều trị kịp thời các bệnh lý viêm nhiễm tai mũi họng;
  • Phát hiện, điều trị sớm các trường hợp vàng da sơ sinh bệnh lý;
  • Phòng chống nghe kém do tác dụng phụ của thuốc, chấn thương, tiếng ồn,…
  1. Điều trị nghe kém ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

 

Nếu nghi ngờ trẻ nghe kém cần đưa trẻ đi sàng lọc khiếm thính ngay

Nghe kém do các bệnh lý tai giữa và tai ngoài có thể được điều trị bằng nội khoa và ngoại khoa. Tuy nhiên, tỷ lệ điều trị thành công còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố như nguyên nhân gây bệnh, cơ địa của trẻ, mức độ nghe kém,…

Trẻ mắc bệnh lý tai trong hoặc bệnh lý tai giữa có thể sử dụng các thiết bị hỗ trợ phục hồi chức năng nghe như máy trợ thính, điện cực ốc tai. Hiệu quả của các thiết bị hỗ trợ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Nguyên nhân gây nghe kém, mức độ nghe kém, thời điểm can thiệp, chất lượng thiết bị, thời gian đeo máy, môi trường nghe, sự hỗ trợ của gia đình, sự phối hợp của trẻ,…

Nếu được phát hiện nghe kém, mất thính lực muộn, trẻ có thể gặp khó khăn trong phát âm, phát triển ngôn ngữ và nhận thức so với trẻ khỏe mạnh bình thường, thậm chí phải gánh chịu những khuyết tật vĩnh viễn như câm, điếc. Vì vậy, cần cho bé tham gia khám sàng lọc khiếm thính sớm, khi nghi ngờ trẻ bị nghe kém phải đi khám chuyên sâu để can thiệp điều trị kịp thời.

12
01 2026

Những bất thường về chức năng nghe của trẻ (đặc biệt là trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ) thường khó phát hiện.

Bệnh lý điếc hay nghe kém ở trẻ em cần can thiệp sớm

Đến khi cha mẹ nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng thì trẻ có thể đã bị bỏ lỡ nhiều cơ hội phát triển nhận thức và ngôn ngữ. Vì trẻ bị điếc hoặc nghe kém thường chậm nói hoặc không nói được, từ đó dẫn đến chậm phát triển ngôn ngữ, gặp khó khăn trong học tập và hòa nhập xã hội.

Đối với bệnh lý điếc hay nghe kém ở trẻ em thì việc phát hiện sớm và can thiệp kịp thời rất quan trọng. Trẻ nghe để học nói. Trong bào thai và khi mới sinh trẻ đã nghe được âm thanh.

Trung tâm phát triển ngôn ngữ ở vỏ não chỉ phát triển trong thời gian 3 - 4 năm đầu đời, trung tâm ngữ nghĩa thì khoảng 1 - 2 năm đầu đời. Vì thế, phát hiện bé không có khả năng nghe khi đã 3 tuổi là muộn.

Ảnh hưởng của nghe kém hoặc điếc đến sự phát triển của trẻ tùy thuộc vào lứa tuổi mắc bệnh. Nếu trẻ bị điếc hoặc nghe kém trong giai đoạn mới sinh thì nhiều khả năng trẻ sẽ không nói được; không những ngôn ngữ không phát triển mà trẻ còn bị ảnh hưởng nhiều đến tâm lý.

Trẻ bị điếc không nghe được những âm thanh mà bản thân phát ra, không hiểu được ý nghĩ của người khác và không hòa vào môi trường âm thanh xung quanh, do đó dẫn đến các biểu hiện rối loạn tâm lý như cáu kỉnh, hay khóc lóc, gây gỗ, hoặc lãnh đạm thờ ơ, tính khí thất thường… từ đó gia đình và nhà trường sẽ gặp nhiều khó khăn trong giáo dục.

Nếu trẻ mắc chứng nghe kém hoặc điếc sau khi đã biết nói thì việc phát hiện và can thiệp sớm giúp trẻ giao tiếp và học hành tốt hơn.

Nguyên nhân gây điếc hoặc nghe kém ở trẻ

Có nhiều nguyên nhân khác nhau có thể dẫn đến bị điếc hoặc nghe kém ở trẻ em bao gồm nguyên nhân bẩm sinh và nguyên nhân mắc phải.

- Nguyên nhân bẩm sinh gồm có: do di truyền, khoảng 50% tất cả các trường hợp điếc bẩm sinh là do di truyền; do quá trình mang thai của mẹ, trong thời gian 3 tháng đầu của thai kỳ người mẹ bị một số bệnh nhiễm trùng như Rubella, giang mai hoặc người mẹ đã dùng các thuốc có thể gây ngộ độc cho thai nhi như nhóm aminoglycosides, cytotoxic, thuốc điều trị sốt rét… hay người mẹ có tiền sử hút thuốc, uống rượu trong quá trình mang thai.

Ngoài ra, trẻ có thể bị điếc trong quá trình sinh nở như đẻ non khi thai chưa phát triển hoàn thiện, chuyển dạ kéo dài (trẻ thiếu oxy, làm suy thai), vị trí nhau bám bất thường, vàng da sau sinh hay can thiệp bằng biện pháp thô bạo trong lúc đẻ...

- Nguyên nhân mắc phải: một số trẻ có thể bị điếc sau sinh do rối loạn gien, nhiễm vi khuẩn, vi rút, sử dụng một số loại kháng sinh gây ngộ độc tai, hoặc bệnh lý khác của tai như viêm tai mạn tính, viêm màng não, viêm não, có khối u, có dị vật lọt vào tai, chấn thương vùng đầu... Thông thường các trường hợp này đều không thể điều trị được, chỉ có thể can thiệp bằng các biện pháp nghe hỗ trợ như dùng máy.

Các dấu hiệu phát hiện sớm

Phụ huynh có thể quan sát và phát hiện sớm các vấn đề về thính giác ở trẻ dựa vào các dấu hiệu nhận biết trẻ bị điếc hoặc nghe kém như:

- Trẻ dưới 8 tháng tuổi: Không giật mình khi nghe những âm thanh lớn, không có phản ứng gì trước tiếng nói của bạn.

- Trẻ từ 12 tháng - 18 tháng tuổi: Không bắt đầu bằng việc bắt chước và sử dụng được một số từ đơn như ba, bà... hoặc không thể phân biệt các đồ vật xung quanh mình, không nghe được tivi ở mức âm lượng bình thường.

- Trẻ 2 tuổi: Không thể làm theo những yêu cầu đơn giản mà thiếu những gợi ý bằng hình ảnh, hành động hoặc không thể lặp lại các cụm từ.

- Trẻ 3 tuổi: Không thể định hướng được nơi phát ra âm thanh hoặc không hiểu và không sử dụng được những từ như: đi, con, to, lớn...

- Trẻ 4 tuổi: Không thể kể ra một vài việc chúng làm gần đây.

- Trẻ 5 tuổi: Không thể thực hiện được một cuộc trò chuyện đơn giản, hoặc những câu trẻ nói rất khó hiểu.

- Lứa tuổi đến trường: Việc suy giảm chức năng nghe ở lứa tuổi này đôi khi được xác định bằng sự thiếu tập trung, hay lơ là, học lực giảm sút, thường xuyên bị cảm lạnh hoặc đau tai.

Nếu phụ huynh thấy con em mình có một trong những biểu hiện trên hoặc không thể hiện những hành vi đúng theo lứa tuổi nên đưa con đi khám bệnh ở các cơ sở y tế có chuyên khoa tai mũi họng càng sớm càng tốt.

Bác sĩ sẽ thăm khám và đưa ra biện pháp chữa trị phù hợp: uống thuốc, đeo máy trợ thính, phẫu thuật cấy điện cực ốc tai... từ đó giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và tư duy, khả năng giao tiếp và hòa nhập cộng đồng.

Nguồn: Trung tâm Truyền thông - Giáo dục Sức khỏe Đồng Nai

05
01 2026

Màng nhĩ là một lớp màng mỏng trong suốt hình bầu dục, là bộ phận đầu tiên tiếp nhận sóng âm từ bên ngoài. Sóng âm đi vào tai làm màng nhĩ rung lên. Độ rung của màng nhĩ được truyền đến chuỗi xương con trong tai giữa rồi truyền tiếp vào tai trong giúp nghe được âm thanh. Màng nhĩ còn có vai trò bảo vệ tai giữa và ngăn không cho vi khuẩn hay các vật thể lạ xâm nhập.

Màng nhĩ có độ đàn hồi tốt, nhưng độ dày trung bình chỉ khoảng 0,1 mm, có thể bị thủng do nhiều nguyên nhân như chấn thương vật lý, chấn thương do áp suất hoặc âm thanh, nhiễm trùng do viêm tai giữa. Thủng màng nhĩ thường làm giảm thính lực, một số trường hợp gây ra điếc hoàn toàn. Mức độ giảm thính lực phụ thuộc vào kích thước và vị trí lỗ thủng, nguyên nhân gây thủng. Các lỗ rách nhỏ làm giảm độ nhạy thính lực khoảng 10-15 dB. Các vết rách lớn hơn gây giảm thính lực 20-30 dB (mức khiếm thính nhẹ).

Hầu hết các trường hợp thủng màng nhĩ nhẹ có thể tự lành khi chăm sóc kỹ theo hướng dẫn bác sĩ hoặc điều trị nội khoa. Bác sĩ thường căn cứ vào nguyên nhân, thời gian và tình trạng kích thước lỗ thủng để xác định màng nhĩ có thể tự lành sau thủng hay không.

Trường hợp màng nhĩ không thể tự lành hoặc thủng màng nhĩ kèm viêm tai giữa... người bệnh được điều trị ổn định đợt nhiễm trùng và phẫu thuật vá màng nhĩ. Phẫu thuật chống chỉ định với bệnh nhân có u ác tính tai ngoài, tai giữa, viêm tai giữa biến chứng nội sọ đang tiến triển...

Bạn cần tuân thủ chỉ định của bác sĩ, giữ tai khô vì nếu ướt có thể dẫn đến tránh nhiễm trùng. Nếu bạn chảy mủ, ù tai, nghe kém hơn, đau tai... nên đến chuyên khoa Tai Mũi Họng khám để bác sĩ điều trị kịp thời, hạn chế biến chứng.

ThS.BS.CKII Trần Thị Thúy Hằng
Trưởng khoa Tai Mũi Họng, Trung tâm Tai Mũi Họng
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM

  • Tri Ân Khách Hàng

    Kỷ Niệm 10 Năm Hoạt Động

    Khuyến mãi đặc biệt đến hết 31/12/2019

  • Hotline

    Tư vấn: 0903168101

  • Địa Chỉ Duy Nhất

    201 Đường 3/2, P.9, Q.10, Tp.HCM

Trung tâm thính học Sài Gòn

Trung tâm thính học Sài Gòn chuyên kinh doanh máy trợ thính cho người điếc, cho người già, cho trẻ với các loạn máy trợ thính không dây  siêu nhỏ, tai nghe trợ thính tốt nhất với giá rẻ nhất.

 

Trung tâm thính học Sài Gòn