1. Làm sao để biết được rằng tình trạng thính lực của trẻ vẫn bình thường
Cách tốt nhất là đưa trẻ tới bác sỹ để khám tai và thính lực. Khi mới sinh ra, hầu hết mọi trẻ sơ sinh đều đã được kiểm tra thính lực trước khi xuất viện. Về sau, bác sỹ thường sẽ kiểm tra thính lực của trẻ trong mỗi đợt khám sức khỏe định kỳ.
Các bậc cha mẹ và người chăm sóc nên trang bị cho mình những kiến thức, dấu hiệu nhận biết để có thể chữa trị kịp thời.
- Bé không thích thú với những trò chơi như vuốt tay, vỗ tay;
- Bé không nhận ra tên của người thân, tên của con thú cưng hoặc những món đồ vật;
- Bé không thể làm theo những yêu cầu đơn giản như “lại đây con”;
- Khi có âm thanh phát ra, bé không quay đầu về hướng đó;
- Bé không chỉ trỏ để thể hiện khi muốn thứ gì đó;
- Bé không bắt chước những từ đơn giản mà bạn nói;
- Bé không nói được ít nhất là hai từ;
- Bé không có phản ứng lại với âm nhạc;
- Bé không bập bẹ;
- Bé không chỉ vào những bộ phận cơ thể đơn giản hoặc nhìn vào các vật thể quen thuộc khi được hỏi.
Dấu hiệu với bé 19-24 tháng tuổi:
- Bé không nói nhiều hơn 5 từ;
- Bé không thể chỉ ít nhất 2 bộ phận cơ thể khi được hỏi;
- Bé không đáp lại bằng “có” hoặc “không” khi được hỏi hoặc yêu cầu gì đó;
- Bé không thể nhận ra những đồ vật quen thuộc như “quả bóng”, “con mèo”…
- Giữa những tiếng bập bẹ, bé không thể nói được điều gì mà người khác có thể hiểu được;
- Bé không thích được đọc sách cho nghe;
- Bé không hiểu những câu hỏi “có/ không”;
- Bé không hiểu những câu ngắn đơn giản, chẳng hạn như “dưới cái bàn”, “trong cái hộp”.
Dấu hiệu với bé 25-29 tháng tuổi:
- Bé không đáp lại những câu mệnh lệnh gồm hai yêu cầu, chẳng hạn như “con ngồi xuống và uống sữa đi”;
- Bé không thể trả lời những câu hỏi “ai”, “cái gì”;
- Bé không thể đặt những câu đơn giản chỉ gồm hai từ, như “Con ăn”;
- Bé không có hứng thú với những câu chuyện đơn giản;
- Bé không hiểu nhiều từ chỉ hành động như “đi”, “chạy”, “ngồi”…
Dấu hiệu với bé 30-36 tháng tuổi:
- Bé không hiểu những từ thể hiện sự sở hữu;
- Bé không thể chọn đồ vật theo kích thước (như “lớn” hay “nhỏ”);
- Bé không dùng bất kỳ từ phức tạp nào;
- Bé không hỏi “tại sao”, “như thế nào”;
- Bé không hiểu khi bạn nói “hết rồi”, “không phải bây giờ”…
2. Nguyên nhân gây mất thính lực
Có hai dạng mất thính lực: mất thính lực bẩm sinh (trẻ khi sinh ra đã bị mất thính lực) và mất thính lực mắc phải (do mắc một căn bệnh nào đó gây ra mất thính lực). Ở Mỹ, cứ 1.000 trẻ thì có khoảng 2-3 trẻ khi sinh ra bị suy giảm thính lực nghiêm trọng (Những trẻ cần chăm sóc sơ sinh tích cực dễ có nguy cơ gặp phải các vấn đề về thính lực.)
Đôi khi, suy giảm thính lực là do di truyền, ngay cả khi cả cha và mẹ đều có thể nghe bình thường. Trường hợp khác, trẻ nhỏ bị tổn thương thính lực là do người mẹ đã bị nhiễm virus trong thai kỳ, ví dụ như rubella, nhiễm Toxoplasma hay virus herpes. Một số trẻ bị giảm thính lực là do tình trạng nhẹ cân khi sinh hay sinh non, hoặc có bất thường phát triển tai trong. Tuy nhiên, một số trường hợp không có nguyên nhân cụ thể.
Sau sinh, trẻ có thể bị điếc nếu dây thần kinh ở tai trong bị tổn thương do chấn thương nào đó, bị khối u hay do bệnh nhiễm trùng như thủy đậu, cúm, viêm màng não hay tăng bạch cầu đơn nhân. Các loại thuốc như hóa chất trị liệu ung thư, salicylate, thuốc lợi tiểu quai và một số kháng sinh tiêm tĩnh mạch cũng có thể gây mất thính lực.
Tình trạng dịch dư thừa lưu lại ở phần tai giữa sau khi bị nhiễm khuẩn hay do tai kém thông thoáng cũng là nguyên nhân dẫn đến giảm thính lực. Dịch có thể lưu lại trong tai tới hàng tuần, ngay cả sau khi nhiễm trùng đã khỏi và gây mất thính lực cho tới khi nó được dẫn lưu loại bỏ khỏi tai.
Điếc vĩnh viễn do dịch lưu lại trong tai khá hiếm, tuy nhiên vẫn có nguy cơ xảy ra nếu trẻ không được điều trị, gây ra thay đổi cấu trúc trong màng nhĩ và các xương của tai.
Tình trạng ráy tai tích tụ và dị vật lọt vào tai cũng có thể gây điếc tạm thời ở trẻ em.
3. Điều trị mất thính lực ở trẻ em
Nếu trẻ bị mất thính lực bẩm sinh hay do một căn bệnh nào đó, thính lực có thể không hồi phục hoàn toàn, tuy nhiên có một số biện pháp có thể giúp trẻ cải thiện được phần nào khả năng nghe của trẻ. Hãy trao đổi với bác sỹ để tìm ra những liệu pháp hỗ trợ như sử dụng máy trợ thính (một thiết bị điện tử được gắn vào bên trong hoặc phía sau tai để khuếch đại âm thanh), hệ thống FM trainer (hỗ trợ cho những người mang thiết bị trợ thính nghe rõ hơn trong môi trường ồn) hay sử dụng ốc tai điện tử.
Ốc tai điện tử bao gồm các điện cực được đặt vào trong xương phía sau tai và phần bên ngoài có tác dụng xử lý lời, thu âm và truyền âm. Ốc tai điện tử hoạt động với chức năng thay thế cho tai trong bằng cách truyền những tín hiệu thính giác tới não. Nếu trẻ bị mất thính lực mức độ nặng, sử dụng ốc tai điện tử có thể là một lựa chọn phù hợp.
Cấy ghép ốc tai điện tử giúp cho nhiều trẻ bị điếc nặng có thể nghe được các âm thành mà trong trường hợp này các máy trợ thính không có hiệu quả. Tuy nhiên, dù sử dụng máy trợ thính hay ốc tai điện tử thì hầu hết mọi trẻ đều sẽ cần tham gia lớp trị liệu về ngôn ngữ trong vòng vài năm để có thể hiểu được những lời nói của người khác.
Một số trẻ bị điếc không thể nghe và nói được nên bắt đầu được học các ngôn ngữ ký hiệu cho người điếc càng sớm càng tốt.
4. Làm cách nào để phòng tình trạng giảm thính lực ở trẻ em
Mặc dù một số nguyên nhân gây điếc là không thể phòng tránh được nhưng có một số điều bạn có thể làm để có thể giảm thiểu nguy cơ cho trẻ:
- Không bao giờ nên đưa bất cứ vật gì vào bên trong tai của trẻ và nhắc nhở trẻ cũng không được đưa vật gì vào tai mình. Ngay cả những thứ mềm như tăm bông cũng có thể gây tổn thương tai của trẻ.
- Tiêm phòng cho trẻ đầy đủ và đúng lịch do một số căn bệnh như quai bị có thể gây mất thính lực.
- Chăm sóc cẩn thận mỗi khi trẻ bị cảm lạnh hay nhiễm trùng tai. Nếu trẻ có xuất hiện những dấu hiệu của tình trạng giảm thính lực sau khi bị viêm tai, hãy đưa trẻ đi khám bác sỹ ngay.
- Không cho trẻ nghe âm thanh quá lớn. Nhạc quá ồn ào hay bật tivi quá to (nhất là khi dùng tai nghe hay headphone) về lâu dài có thể làm ảnh hưởng đến khả năng nghe của trẻ.
